Cách dùng thuốc Viagra: một số lưu ý

Ham muốn, tần suất, cường độ, thời gian hoạt động tình dục lệ thuộc vào nền sức khỏe chung. Ở người cao tuổi, người bị các bệnh mạn tính, nếu cần dùng thuốc chữa yếu sinh lý thì phải hết sức thận trọng theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Kinh nghiệm cho thấy tất cả các thuốc chữa yếu sinh lý (kể cả ức chế PDE-5) đều có một số hiệu quả nhất định chứ không phải toàn năng. Không nên quá kỳ vọng vào thuốc, rồi sau đó không đạt được mong muốn lại thất vọng, tạo ra yếu tố tâm lý xấu, làm cho tình trạng yếu sinh lý tồi tệ hơn.

Tín hiệu điều khiển trạng thái cương truyền từ vùng hạ đồi đến dương vật. Thần kinh đối giao cảm (tiết ra acetylcholin) phối hợp với tế bào nội mô của xoang tĩnh mạch (tiết ra prostaglandin-F2a, endothelin) tạo ra phản ứng sinh oxid nitric (NO). NO lại tạo ra phản ứng sinh GMP (guanosin monophosphat vòng-nội bào) gây giãn cơ trơn tiểu động mạch thể hang, làm cho máu tràn vào đó, đồng thời lại chẹn toàn bộ hệ thống tĩnh mạch nằm dưới bao trắng, không cho máu thoát đi. Máu ứ lại tại dương vật gây trạng thái cương. Trục trặc tại bất cứ khâu nào cũng gây yếu sinh lý. Nguyên nhân gây yếu sinh lý gồm:

– Rối loạn mạch máu: cholesterol cao, huyết áp cao, xơ vữa, tổn thương mạch máu.

– Rối loạn hormone: giảm testosteron, tăng prolactin, suy tuyến giáp.

– Yếu tố tâm lý: do không yêu, không hòa thuận, do chán ghét giao tiếp xác thịt (vì quá khứ chịu cú shock tinh thần như bị cưỡng dâm), do stress (vì áp lực công việc, đời sống…).

– Bệnh toàn thân, tuổi già: suy thận mạn, đái tháo đường, bệnh tim hay tuổi cao.

– Dùng thuốc: dùng lâu dài các thuốc cao huyết áp, trầm cảm, động kinh, an thần, gây ngủ, kháng histamin, dùng một số chất khác (thuốc lá, rượu).

Mỗi loại thuốc chỉ tác dụng lên một nguyên nhân, trong một khâu nhất định của yếu sinh lý.

Thuốc ức chế PDE-5 không phải là toàn năng

Ức chế PDE-5 gồm: sildenafil (thuốc viagra), tanalafil (cinalis), vardenafil (levitra).

Enzyme PDE-5 (phosphodiesterase- 5) thủy phân GMP làm mất một mắt xích quan trọng cuối cùng trạng thái cương (giản cơ trơn tiểu động mạch, làm cho máu tràn vào thể hang). Ức chế PDE-5 làm cho enzyme này không hoạt động, GMP bền vững, quá trình cương thông suốt.

Ức chế PDE-5 đáp ứng được với 70% người bệnh, còn lại 30% không đáp ứng, sau 1 năm còn có thêm khoảng 30% người tự ý bỏ thuốc mà chưa rõ lý do. Thất bại khi dùng ức chế PDE-5 thường do:

– Dùng không đúng chỉ định: ức chế PDE-5 chỉ có tác dụng theo cơ chế trên. Nếu yếu sinh lý do các nguyên nhân khác, thì ức chế PDE-5 không thể đáp ứng. Chẳng hạn, ức chế PDE-5 không cho hiệu quả với yếu sinh lý do rối loạn chức năng nội mô, do xơ vữa mạch máu dương vật diễn biến xấu, do nhược năng tuyến sinh dục, do yếu tố tâm lý, do bị các bệnh mạn tính (suy thận mạn, đái tháo đường, tim mạch), do tuổi già.

– Dùng thuốc Viagra không đúng cách: khởi đầu hiệu lực của thuốc viagra là 40 phút, của cinalis 30 phút và của levitra là 15 phút. Thời gian đạt nồng độ đỉnh của thuốc viagra là 60 phút, cinalis là 120 phút và levitra là 40 phút. Dùng không đúng thời điểm, kèm quá nhiều thức ăn, hiệu quả sẽ bị hạn chế. Liều khởi đầu của thuốc viagra là 50mg, của cinalis và levitra là 10mg, nếu dùng liều gấp đôi sẽ đạt hiệu quả tối ưu. Không chọn đúng liều tối ưu sẽ kém hiệu quả, đôi khi còn bị tác dụng phụ phải ngừng thuốc, song dùng liều cao lại dễ bị tai biến. Phần lớn người cho kết quả tốt sau 2 liều, nhưng cũng có người sau 6-8 liều. Thiếu kiên nhẫn dẫn đến đánh giá thuốc không đúng sẽ tự ý ngừng thuốc không đúng lúc.

– Không chú ý đúng mức tai biến: ức chế PDE-5 có thể gây nhức đầu, đỏ bừng mặt, rối loạn tiêu hóa, viêm mũi, đau lưng (chỉ ở cinalis). Người bình thường, sau khi dùng (nhất là dùng liều cao) cũng có thể bị hạ huyết áp dẫn tới nhịp tim nhanh, rung nhĩ nhưng không nặng. Người có một số bệnh (cao huyết áp, tăng cholesterol, đái tháo đường, nhất là bệnh tim mạch) đặc biệt khi đang đùng thuốc chữa bệnh này mà dùng PDE-5, thì tai biến xảy ra sẽ nặng hơn. Chẳng hạn: khi đang dùng thuốc chống đau thắt ngực (thuốc này sinh NO làm giãn mạch), đang dùng thuốc chữa phì đại lành tính tuyến tiền liệt như cardula formax, thuốc chữa cao huyết áp chẹn beta như propranolol (các thuốc gây hạ huyết áp) mà dùng ức chế PDE-5 thì tác dụng giãn mạch, hạ huyết áp của các thuốc trên và của PDE-5 cộng hợp với nhau làm trụy tim mạch nặng, gây tử vong. Gần đây còn thấy thuốc viagra còn có thể làm tắc nghẽn dòng máu đến nuôi thần kinh thị giác, gây rối loạn thị giác ở nhiều mức độ khác nhau, đôi khi dẫn đến mù đột ngột. Các biệt dược levitra, cinalis cũng có tác dụng tương tự. Hầu hết tai biến nặng do PDE-5 gây ra là do dùng cho những người bị kèm các bệnh nói trên, dùng quá liều.

Không coi nhẹ vai trò của các thuốc khác

Tetosteron: nhược năng tuyến sinh dục làm nồng độ testosteron thấp xuống dưới ngưỡng cần thiết (dưới 200ng/dL) làm giảm ham muốn tình dục, gây yếu sinh lý. Trong trường hợp này, dùng ức chế PDE-5 không có hiệu quả mà dùng testosteron đường uống cho hiệu quả đến 52%, đường tiêm cho hiệu quả tới 80% (tăng ham muốn, tần suất, cường độ giao hợp). Có trường hợp dùng PDE-5 ít hiệu quả, khi phối hợp với testosteron, thì testoteron như một chất khởi động làm cho ức chế PDE-5 dùng sau đó có hiệu quả cao hơn.

Alprostadil: là prostaglandin-E tổng hợp. Thông qua enzyme aldehyt cyclase, alprostandil làm tăng AMP (adenosin monophosphat) vòng, giảm nồng độ canxi nội bào, dẫn đến giãn cơ trơn động mạch, cơ trơn thể hang. AMP vòng còn có thể phục hồi quá trình tác động của NO làm tăng GMP vòng, dẫn đến giãn cơ trơn ở tiểu động mạch thể hang, dồn máu lại tại đó, gây cương.

Papaverin: là ức chế PDE không chọn lọc. Hiệu lực không bằng alprostadil. Với yếu sinh lý do thần kinh hay tâm lý, cho hiệu quả tới 80%, song với yếu sinh lý do mạch máu thì hiệu quả rất ít

Apomorphin: chất đồng vận với dopamin. Đang thử nghiệm. Dạng đặt dưới lưỡi có hiệu quả kém ức chế PDE- 5 nhưng nhanh, ít tác dụng phụ. Dùng phối hợp với ức chế PDE-5 cho hiệu quả cao hơn khi dùng mỗi thứ riêng biệt.

Melanotan: là peptid hướng melanin. Đang thử nghiệm. Tiêm dưới da cho người yếu sinh lý do nguyên nhân thực thể đạt hiệu quả khoảng 63%.

Một vài quan niệm và cách dùng thuốc Viagra

Yếu sinh lý là một bệnh, cần dùng thuốc. Ngay với yếu sinh lý do tâm lý cũng không hẳn chỉ đơn thuần dùng liệu pháp tâm lý. Có người bị bệnh song dấu diếm, tự mày mò chữa là không đúng.

yếu sinh lý là bệnh chuyên khoa. Các thầy thuốc Khoa nam học hay một số trường hợp thầy thuốc nội khoa, nội tiết mới có thể cho đơn được. Cần khám chữa đúng địa chỉ.

Testosteron có làm tăng hứng thú tình dục (khi testosteron hạ xuống dưới ngưỡng). Tất cả các thuốc chửa yếu sinh lý khác không tạo ra hứng thú tình dục. Thuốc chữa yếu sinh lý phục hồi lại quá trình cương (hiệu quả tối ưu ở liều thích hợp) chứ không phải là thuốc làm tăng vô hạn tần số, cường độ, thời gian hoạt động tình dục. Ngay cả testosteron dùng liều vượt quá ngưỡng cũng không thể đạt được điều này. Vì thế, không thể dùng thuốc chữa yếu sinh lý vào mục đích tạo sự hoan lạc trong ăn chơi!

Các thuốc chữa yếu sinh lý có một số tác dụng phụ. Quá nhấn mạnh đến các tác dụng phụ này tạo ra tâm lý lo ngại, sợ sệt không dùng thuốc là sai. Thật ra, tất cả các độc tính của thuốc chữa yếu sinh lý là do cách dùng không đúng (dùng vào mục đích chơi bời, dùng trong trường hợp phản chỉ định, dùng liều cao). Dùng đúng chỉ định, đúng liều thì thuốc chữa yếu sinh lý khá an toàn.

GMP vòng có vai trò quan trọng, chủ yếu trong quá trình cương cứng. Ức chế PDE-5 làm vững bền GMP vòng giúp cho quá trình cương suôn sẽ. Dùng ức chế PDE-5 tạo ra một cuộc cách mạng trong điều trị yếu sinh lý. Nhưng ức chế PDE-5 không quyết định tất cả. Cần phải khám, xác định nguyên nhân yếu sinh lý và dùng đúng thuốc mới có hiệu quả.

Trong nhiều trường hợp, yếu sinh lý do các nguyên nhân hổn hợp; dùng phối hợp thuốc tỏ ra hiệu quả hơn dùng một thứ riêng biệt (kể cả ức chế PDE-5).

DS.CKII. BÙI VĂN UY